Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội đang phát triển thành hai vùng
đô thị lớn nhất Việt Nam. Tam nông vẫn còn đang tồn tại với quy mô rất
lớn. Nó có thể là một may mắn nhưng cũng có thể là một tai họa nếu chúng
ta hành động sai. Do vậy, cần có những nhận thức đúng hơn để có cách
ứng xử hợp lý hơn trong một chiến lược chung của đất nước.
1. Nhận thức cổ điển và truyền thống về nông thôn trong đô thị đơn tâm
Mô hình đô thị cổ xưa nhất của nhân loại là các thành thị đơn tâm với
một khu vực lõi và vùng nông nghiệp bao quanh. Loại đô thị này được coi
là xuất hiện đầu tiên trong lịch sử đô thị và khá phổ biến ở tất cả các
quốc gia.
Theo quy luật mà K.Marx gọi là “lịch sử phát triển tự nhiên”, các khu
vực lõi này có sức hút và sức đẩy. Nó hút những người thượng lưu vào tâm
và đẩy những người yếu thế ra vòng ngoài. Cứ như thế thành phố lớn dần
lên và mở rộng ra bên ngoài, lúc đầu chỉ vài ngàn dân sau vài chục năm
tăng lên hàng triệu dân, bán kính thành phố mở ra từ vài trăm mét lên
đến 40-50 km.

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa |
Cùng với việc mở rộng không gian là hình thành các khu chức năng và các
đường vành đai, đô thị càng nới rộng ra thì số đường vành đai càng
nhiều lên. Người đầu tiên mô hình hóa loại thành phố này và xây dựng nên
hệ lý thuyết là Ernest Burgess người Mỹ vào năm 1925 và đặt tên là đô
thị các vòng tròn đồng tâm (concentric Zone). Nếu bình tâm xem xét các
thành phố lớn hiện đại hôm nay chỉ có một trung tâm thì cấu trúc phần
lõi vẫn không khác mấy so với hàng ngàn năm trước. Tức là những thành
phần quan trọng nhất của một thành phố vẫn nằm ở trung tâm như trụ sở
của các cơ quan đầu não (văn phòng nội các, văn phòng thị trưởng, hội
đồng thành phố), các cơ quan chức năng chính quyền thành phố, các ngoại
giao đoàn (đại sứ quán, lãnh sự quán, các văn phòng đại diện), các ngân
hàng lớn, các tập đoàn kinh tế quốc tế, thị trường chứng khoán, trung
tâm thương mại... Cố nhiên, cư trú ở đây phải là những người thuộc tầng
lớp trung lưu lớp trên trở lên...
Với mô hình đô thị đơn tâm này người ta thấy xuất hiện một loạt các cặp
khái niệm đối trọng: Bên trong - Bên ngoài; Nội thành - Ngoại thành;
Vùng trung tâm - Vùng ven; Nội đô - Ngoại ô; Nội thị - Ngoại thị; Vùng
lõi - Vùng ngoại vi; Vùng đô thị - Vùng nông thôn... Đến một thành phố
có cấu trúc kiểu này người ta rất dễ nhận ra đâu là bên trong và bên
ngoài bằng những ranh giới cứng. Những hình thức thường thấy như là một
con sông bao quanh, các trục đường hình khuyên và phổ biến nhất là một
vành đai xanh bao quanh vùng nội thành như một lá chắn bảo vệ. Phía bên
ngoài vành đai xanh là ngoại thành chứa các khu công nghiệp ô nhiễm, các
cánh đồng lúa, trồng hoa màu, chăn nuôi, các khu vực xử lý rác thải, và
nhà ở thấp tầng của nông dân...
Thêm vào đó nữa là các điểm nhấn phân ranh giới do chính quyền quy
định, chẳng hạn như trạm thu phí xe vào nội thành, trạm rửa xe trước khi
vào khu trung tâm, biển phân luồng giao thông loại xe được vào nội
thành và xe tải nặng phải chạy ở đường vành đai, bến xe bus tuyến nội
thành, hoặc đơn giản hơn là biển báo bắt đầu địa hạt nội - ngoại thành
(welcome hay see again).
Cũng chính việc phân chia này dẫn đến hệ quả bất bình đẳng trong đầu tư
và phát triển. Một thực tế là chính quyền các thành phố thường tập
trung đầu tư ưu tiên cho nội thành vì đó là bộ mặt của quốc gia (hay
vùng) và là nơi sinh lời cao hơn, cố nhiên mức độ ưu tiên phát triển cho
ngoại thành thấp hơn. Chính điều này đã tạo ra một bức tranh tương phản
rất rõ ràng... Trong tiềm thức của bất kỳ ai trong chúng ta khi nói đến
nông thôn ngoại thành là nghĩ ngay đến sự nghèo nàn, lạc hậu, văn hóa -
giáo dục thấp kém, những khu nhà lụp xụp thiếu tiện nghi, những đứa trẻ
ăn mặc nhếch nhác. Thực trạng này tồn tại rất lâu dài ở các thành phố
của Việt Nam, ngay cả ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và các thành phố của các
nước châu Á đang phát triển như Vientiane (Lào), Phnompenh (Campuchia),
Rangoon (Myanma), Bangkok (Thái Lan)...

Phương án thiết kế mô hình nông thôn mới - VIAP
2. Nông thôn mới trong vùng đô thị đa trung tâm
Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước, mô hình vùng đô thị đa tâm
xuất hiện, trước hết ở Bắc Mỹ, sau nữa là Châu Âu và lan dần đến châu Á,
Nam Mỹ. Loại hình này xuất hiện như một sự tất yếu của đô thị hóa toàn
cầu và sự bành trướng nhanh đô thị. Khi dân số của các đô thị đơn tâm
tăng lên khiến cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội quá tải, hệ
quả là làm xuất hiện một loạt các vấn nạn đô thị như tắc nghẽn giao
thông, ô nhiễm môi trường, thiếu nhà ở, tệ nạn xã hội, cơ sở dịch vụ
xuống cấp... Để giải quyết tình trạng trên các thành phố lớn buộc phải
“phân thân” sản sinh ra các loại thành phố khác như thành phố vệ tinh,
thành phố đối trọng, thành phố đồng cấp... Các thành phố này chia sẻ
gánh nặng với thành phố mẹ (hay thành phố gốc) để hình thành nên các
loại hình đô thị mới với các tên gọi như “mạng đô thị”, “chuỗi đô thị”,
“chùm đô thị” và “vùng đô thị”.

Kiến trúc xây mới ở nông thôn

Cổng làng Đường Lâm, Hà Nội - Di sản cần bảo tồn
Đặc điểm của các hệ thống đô thị trên là “đa tâm, đa cực, phi tập trung
hóa”. Lúc này vùng đô thị là một sự đan xen giữa các thành tố
(component) và tế bào (cell) của đô thị. Một vùng rộng lớn với diện tích
hàng nghìn km2 và hàng chục triệu người dân sống và làm việc ở các
thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp và các vùng nông
nghiệp. Khoảng cách giữa các thành phố, thị trấn là những rừng sinh
thái, vườn cây, các khu trồng rau trái, hoa tươi, chăn nuôi thú vật, hồ
nước, công viên, khu nghỉ dưỡng, resort và có cả những làng nghề, làng
nông nghiệp quy mô nhỏ nhưng chất lượng sống khá cao. Do vậy, lúc này
khái niệm nội thành và nông thôn ngoại thành hiểu theo nghĩa truyền
thống không còn phù hợp nữa. Trong vùng đô thị với hàng chục thành phố,
thị trấn thì thật khó có thể chấp nhận một cách khiên cưỡng là thành phố
A là ngoại thành của thành phố B cho dù khác nhau về qui mô, và lại
càng khó chấp nhận khi coi vùng đệm giữa các thành phố là ngoại thành.
Như thế trong vùng đô thị khái niệm “vùng nông thôn ngoại thành” để chỉ
một vùng đất được định danh không còn nữa và lúc này nông thôn trong
vùng đô thị mang một ý nghĩa mới và hoàn toàn khác. Nó là “vùng sinh
thái xanh” để tạo ra sự cân bằng trong vùng đô thị cứng (beton, sắt
thép, inox, kính), là “vùng đệm” an toàn cho các thành phố trong vùng
chứa nhiều rủi ro (ví dụ như chia sẻ ngập lụt, hỏa hoạn), là “vùng mềm
tâm lý” cho người dân cần tìm sự cân bằng sinh học, là “vùng tái tạo văn
hóa” cho người dân tạm lánh sức ép văn minh đô thị, và là “vùng an ninh
lương thực” cho một vùng đô thị nhiều triệu dân.
3. Định hướng phát triển nông thôn cho vùng đô thị Hà Nội và TP.HCM
Dù muốn hay không thì Hà Nội và TP.HCM hôm nay đang phải phát triển
theo hướng đa tâm, phi tập trung hóa. Mô hình quy hoạch Hà Nội đang xây
dựng cho thấy rõ ý đồ phát triển thành một vùng đô thị rộng lớn với
3.344 km2 và 6,2 triệu dân. Trên tổng mặt bằng quy hoạch có 5 thành phố
vệ tinh và hàng chục thị trấn hiện hữu, trong số đó có một số thành phố
có quy mô dân trên nửa triệu người (Hòa Lạc: 850.000 người, Sơn Tây:
600.000 người; Xuân Mai: 850.000 người). Nếu trước năm 2008, vùng bên
ngoài khu trung tâm Thủ đô được coi là ngoại thành, chẳng hạn như Gia
Lâm, Sóc Sơn... Người dân Hà Nội rất dễ xác nhận đâu là nội thành và đâu
là ngoại thành, nhưng từ khi Hà Nội mở rộng thành vùng đô thị thì khái
niệm này trở nên mơ hồ (nếu có chỉ là thói quen cũ) không chỉ đối với
người dân mà còn cả với các nhà quản lý, điều này chắc chắn sẽ còn trở
nên khó khăn sau 15-20 năm nữa.
Một hình thái xen cài giữa thành phố, thị xã và làng mạc, giữa các khu
dân cư hiện đại với đồng ruộng, giữa cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện
đại và hạ tầng nông thôn lạc hậu đang hình thành, rất khó để phân định
rõ ràng một vùng hay khu vực ngoại thành như một không gian cứng như
trước kia nữa. Hình thái này khiến chúng ta cần phải thay đổi cung cách
quản lý và lập chính sách, điều đó thể hiện:
-Cần thay đổi tư duy trong phát triển nhất là chính sách đầu tư, nếu
trước kia cần dành phần đầu tư nhiều nhất cho nội thành, phần ngoại
thành không đáng kể thì nay cần phải hiểu bất cứ thay đổi tích cực hay
tiêu cực nào của một khu vực đều tác động đến toàn vùng và hệ thống các
đô thị. Một ví dụ trước kia cho dù ngoại thành nghèo, lạc hậu, nhiều tệ
nạn thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến nội thành vì chúng tồn tại khá
biệt lập về địa giới hành chính và không gian, nhưng ngày nay nếu một
khu vực nông thôn xen cài giữa các đô thị đóng vai trò như một “vùng
đệm” bị ngập úng, hệ thống giao thông đi ngang qua bị phá hủy, tệ nạn xã
hội tăng cao, rác thải rắn gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, công
trình xây dựng bị ách tắc thì ngay lập tức các thành phố, thị xã kế cận
bị ảnh hưởng trực tiếp. Ở đây không phải là đầu tư dàn trải, vẫn cần đầu
tư có trọng điểm, nhưng không được quên vùng nông thôn xen cài trong
vùng đô thị.

Làng Cự Đà, Hà Nội

Giao thông nông thôn mới - Về bản chất vẫn là những con đường uốn lượn mềm mại bên chiếc ao làng gốc cây
-Cần phải xây dựng tam nông nông mới. Việc Hà Nội mở rộng ôm vào mình
rất nhiều vùng đất nông nghiệp và núi cao với một diện tích quá lớn, dân
số nông dân quá đông, do vậy không thể một sớm một chiều biến tất cả
thành thị dân ưu tú và đời sống với chất lượng cao. Đồng thời cũng không
nên tính đến việc thanh toán sạch sẽ “tam nông” như một số người mong
muốn. Con đường tốt nhất là từng bước phát triển để thay đổi theo hướng
tạo ra một vùng đô thị - nông thôn hiện đại kết hợp hài hòa giữa đô thị
và nông thôn. Trong vùng đô thị có nông thôn và trong nông thôn có chất
lượng sống của đô thị. Những làng nghề thủ công (gốm sứ, chạm mộc, dệt
lụa...) kết hợp với du lịch được đầu tư phát triển mạnh, những làng nông
nghiệp được chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng chuyên canh và
chất lượng cao, có thể không trồng lúa nước nữa mà trồng rau trái xuất
khẩu, hoa tươi, nuôi cá cảnh, baba, cá sấu... xuất khẩu. Nông thôn vẫn
giữ lại kiến trúc làng xã truyền thống, các nét đẹp văn hóa truyền thống
(lễ hội, dân ca dân vũ, hương ước), và các giá trị xã hội truyền thống
(đề cao giá trị gia đình, gắn bó cộng đồng, tôn trọng người già, tôn
vinh giáo dục...) được chọn lọc phát huy. Điều quan trọng ở đây là người
dân được hưởng các dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục, vui chơi giải trí,
nghỉ dưỡng) và cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, thông tin liên lạc,
truyền thông) không kém (thậm chí tốt hơn) người dân ở phố thị. Chính
nông thôn trong đô thị là nơi cân bằng các giá trị sống cho thị dân. Sự
kết hợp tài tình nông thôn và đô thị ở Đài Loan là một kiểu mẫu cho
chúng ta học tập khi phát triển các đại đô thị ở Việt Nam.
PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa,
Trường ĐH Quốc gia TP.HCM
(Nguồn: Báo xây dựng)